Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

bệnh viêm gan siêu vi C không lây qua sữa mẹ

Bệnh không lây qua sữa mẹ, nên người mẹ không phải tránh né việc cho con bú.

Cho dù việc lây lan có phần hạn chế, khó khăn hơn so với siêu vi A và viêm gan siêu vi B, nhưng do “hoạt động” có hiệu quả hơn, nên siêu vi C đã trở thành nguyên nhân quan trọng nhất gây ra bệnh viêm gan mạn tính trên toàn thế giới.
Viêm gan siêu vi C là một loại siêu vi RNA kỳ lạ có khả năng thay đổi đặc tính di truyền một cách hết sức nhanh chóng và dễ dàng. Tuy loại siêu vi này đã hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới từ hơn hai ngàn năm qua, nhưng mãi đến thập niên 1990 người ta mới thực sự khám phá ra được sự hiện diện của nó.

Những cơn dịch “vàng da” do bệnh viêm gan gây ra lan rộng qua thức ăn và nước uống đã được ghi nhận từ nhiều năm trước Công nguyên, nhưng mãi đến cuối thế kỷ thứ 19, người ta mới bắt đầu nghi ngờ là bệnh viêm gan còn có thể lây qua đường máu. Và phải chờ đến hơn 70 năm trôi qua, với sự phát minh ra những phương thức xét nghiệm máu, người ta mới bắt đầu nhận diện được một loại siêu vi gây bệnh viêm gan mới. Qua sự khám phá này, người ta đã tin rằng có 2 loại siêu vi gây ra bệnh viêm gan. Một loại lây lan qua thức ăn, nước uống; đó là siêu vi gây bệnh viêm gan A. Một loại lây lan qua đường máu; đó là siêu vi gây bệnh viêm gan B.

Nhưng một thời gian sau đó, người ta nhận thấy điều này không hoàn toàn đúng, vì có đa số bệnh nhân viêm gan không do siêu vi A hoặc siêu vi B gây ra. Vì thế, vào khoảng đầu năm 1974 người ta đã gọi loại siêu vi đang trong vòng nghi ngờ này là siêu vi viêm gan “không A, không B” (non-A, non-B hepatitis). Cách gọi tên này thậm chí cho đến nay vẫn còn được sử dụng.

Cho đến khi phát triển được những kỹ thuật nghiên cứu các phân tử cực kỳ nhỏ bé (molecular biologic techniques), các khoa học gia mới khám phá thêm được loại siêu vi gây viêm gan thứ ba. Đó chính là siêu vi C.

Trong một thời gian ngắn, các khoa học gia đã phác họa được cơ cấu và hình thù của các siêu vi viêm gan này một cách chi tiết, với từng chất hóa học xếp dọc theo thứ tự trên chuỗi nhiễm thể RNA. Khám phá này là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử y khoa, mở đường cho hàng loạt những khám phá quan trọng kế tiếp trong việc chữa trị bệnh gan C.

Song song với những công cuộc nghiên cứu về các bệnh nhiễm trùng khác, nhất là bệnh AIDS, sự hiểu biết về siêu vi viêm gan C và cách thức điều trị bệnh viêm gan do chúng gây ra đã tiếp tục được phát triển theo hướng rất khả quan.

Siêu vi viêm gan C cực kỳ nhỏ bé, với đường kính chỉ có 50 nm nên phải nhìn dưới kính hiển vi điện tử mới thấy được. Chúng được bảo vệ bởi một lớp vỏ kiên cố, nên phải nấu sôi trên 100 độ C trong vòng 5 phút mới có thể tiêu diệt được chúng. Khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn viêm gan C có khuynh hướng tàn phá và tiêu hủy gan một cách tương đối chậm chạp nhưng chắc chắn, dẫn đến viêm gan (inflammation hepatitis), xơ gan (liver fibrosis), chai gan (liver cirrhosis) và ung thư gan (liver cancer).

Trong lúc tăng trưởng, viêm gan siêu vi C có khả năng “biến hóa”, thay đổi đặc tính di truyền RNA, hóa trang và biến dạng thành nhiều hình thể khác nhau. Khả năng biến hóa này đã giúp chúng thoát khỏi vòng kiểm soát chặt chẽ của hệ thống miễn nhiễm (immune system) trong cơ thể. Vì thế, sau một thời gian ngắn, cơ thể chúng ta có thể chứa đựng hàng tỷ vi khuẩn viêm gan C với nhiều mã di truyền khác nhau, với những chiếc “áo giáp” khác nhau.

Sự biến đổi chất nhiễm thể của siêu vi trong hơn 2000 năm qua đã tạo ra nhiều kiểu loại gen khác nhau (genotype). Người ta phân biệt chúng bằng những tên gọi như siêu vi C số 1, số 2, số 3... Trong mỗi một kiểu loại gen, còn phân ra thành nhiều tiểu loại (subtype) nữa, như a, b, c, d, e... dựa theo những đặc điểm khác nhau của chúng. Ví dụ, chúng ta có thể xác định một loại siêu vi C chính xác hơn như là siêu vi C1a, C1b, C1c, C2a, C2b, C2c... Những khám phá này ban đầu chỉ dùng trong nghiên cứu, nhưng ngày nay đã trở thành những phương thức xét nghiệm máu vô cùng quan trọng trong quá trình xác định và điều trị bệnh viem gan sieu vi C.

Trong các loại siêu vi viêm gan C, loại số 1 (siêu vi C1) chiếm tỷ lệ cao nhất trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, ước tính có 35% siêu vi thuộc loại C1a và 35% loại C1b. Siêu vi C1b cũng tìm thấy nhiều nhất ở châu Âu, Nhật Bản cũng như Đài Loan. Loại số 3 tìm thấy ở Pakistan, Austraulia, Scotland. Loại số 4 ở Trung Đông, châu Phi và Nam Phi. Loại số 6 tại Hồng Kông và Macao...

Nói chung thì tất cả các loại siêu vi C đều nguy hiểm như nhau, nhưng các tiểu loại C2 và C3 tương đối “dễ chịu” hơn hết. Các loại số 1, nhất là C1b là “khó chịu” hơn cả.

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Dấu hiệu nhận biết bệnh viêm gan B


Triệu chứng bệnh
Chỉ khoảng 30 – 50% người lớn có triệu chứng, ở trẻ nhỏ tỷ lệ này còn ít hơn < 10% . 
Bệnh viêm gan cấp
Sốt là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Sốt thường nhẹ, ít khi sốt cao, giống cảm cúm.
Mệt mỏi là triệu chứng rõ rệt hơn.
- Vàng da sẽ xuất hiện vài ngày sau khi sốt, mệt, kèm vàng mắt, nước tiểu sẫm màu.
- Ngoài ra, có thêm một số triệu chứng khác như chan an, đầy bụng, nôn ói, đau bụng vùng trên rốn, đau khớp v.v...
- Đợt cấp chỉ kéo dài khoảng 2-3 tuần. Sau đó, nếu không có biến chứng, các triệu chứng bớt dần, người bệnh hồi phục hoàn toàn.
Viêm gan tối cấp
Hiếm khi viêm gan B cấp diễn tiến thành suy gan cấp, các triệu chứng xuất hiện đột ngột hơn, nặng hơn và tử vong > 80% do
- Hôn mê gan
- Xuất huyết: người bệnh nôn ói ra máu, tiêu ra máu, tiểu ra máu, các vết hoặc các đám đỏ bầm dưới da, chảy máu chỗ chích thuốc.
Viêm gan mạn
Giai đoạn nhiễm HBV mạn tính kéo dài nhiều năm, có thể không có triệu chứng, cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, ung thư gan…Hoặc chỉ có các triệu chứng âm ỉ nhưng kéo dài.
bệnh gan mạn có thể xuất hiện dưới 2 thể bệnh:
-  Thế tiềm ẩn (thể dai dẳng)  thường chỉ có những triệu chứng không rõ rệt như mệt mỏi, ăn uống chậm tiêu, táo bón...
- Thể hoạt động (thể tấn công) thì các triệu chứng rõ rệt hơn: người bệnh suy nhược, rất yếu, chán ăn, no hơi, đầy bụng... thường bị dị ứng, nổi mề đay, ngứa, và thỉnh thoảng lại có đợt sốt tự nhiên.
Chẩn đoán
Muốn xác định tình trạng nhiễm HBV cũng như phân biệt giai đoạn cấp hay mạn tính hoặc người lành mang mầm bệnh, cần phải xét nghiệm máu.

Xem thêm:  giai doc gan | gan nhiem mo| viêm gan siêu vi| viêm gan siêu vi B| viem gan sieu vi

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Xóa sổ viêm gan B ở Đài Loan

Bảng xếp hạng dược phẩm tiêu thụ của Đài Loan năm 2013 vừa ra mắt, theo đó loại thuốc Baraclude chiếm ngôi vị quán quân, đánh bật sản phẩm thuốc giảm huyết áp Norvasc đã đạt quán quân 9 năm liền. Đây là bảng xếp hạng các loại dược phẩm bán chạy nhất do Công ty dược phẩm IMS Health thực hiện, nội dung thống kê gồm hai mảng chính là chi trả bảo hiểm y tế và tự túc. 

Một điều đáng chú ‎ý là, sản phẩm thuốc Baraclude dùng cho viem gan B từ bậc xếp hạng thứ 8 vào năm 2010, tới năm 2011 nâng hạng lên xếp thứ 3, còn trong năm 2012 thì nhảy vọt lên xếp hạng nhất.


Theo giáo sư Hứa Kim Xuyên, chủ tịch hội đồng quản trị của Bệnh viện học viện Y Đại học quốc gia Đài Loan cho biết, trước đây loại thuốc dieu tri benh viem gan B thế hệ thứ nhất có tính kháng thuốc cao, còn thuốc Baraclude trước đây 4-5 năm Nha Y tế phê chuẩn cho tiêu thụ trên thị trường thì bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ, do vậy dần dần được sử dụng phổ biến rộng rãi hơn, do tính kháng thuốc thấp, hiệu quả rất tốt, hiện tại khi điều trị viêm gan B, các bác sĩ đều ưu tiên xem xét sử dụng thuốc Baraclude, vì vậy mà lượng tiêu thụ trong mấy năm nay cũng tăn mạnh.

Cũng theo ông Hứa Kim Xuyên cho biết, từ năm 1984, Đài Loan bắt đầu triển khai tiêm Vacxin benh gan B cho trẻ sơ sinh, đồng thời những năm gần đây, Đài Loan đẩy mạnh tuyên truyền việc theo dõi và điều trị cho người mang mầm bệnh viêm gan B, đạt kết quả khá tốt, ông dự báo sau khoảng 20 năm nữa, viêm gan B không còn là căn bệnh đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe của người dân Đài Loan nữa, theo thống kê, tại Đài Loan hiện nay, số người mang mầm bệnh viêm gan B dưới 10 tuổi chỉ chiếm khoảng 1%, tỷ lệ người mang mầm benh gan B bình quân chiếm 156% so với toàn dân số. Hy vọng sau 20 năm căn bệnh này có thể sẽ được xóa sổ tại Đài Loan.

Ngoài ra lượng tiêu thụ sản phẩm thuốc Norvasc giảm thấp, chủ yếu có liên quan tới việc Cục Bảo hiểm y tế cắt giảm chi phí tiền thuốc, còn 3 loại bệnh huyết áp cao, đường huyết cao, và máu mỡ cao vẫn là những căn bệnh ảnh hưởng rất lớn đến người dân Đài Loan.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Vài điều cần biết về bệnh viêm gan siêu vi E

Bệnh viêm gan siêu vi E là bệnh như thế nào, nó là căn bệnh mà ít người biết đến nên sự hiểu biết về căn bệnh này đối với mọi người cũng tương đối mơ hồ. 

Vào năm 1955, sau một trận lụt lớn tại Ấn Độ, nước sông Yamuna đã gây ra tiêu chảy và vàng da cho hơn 30 ngàn dân địa phương. Ban đầu người ta cho rằng bệnh viêm gan siêu vi A lại một lần nữa lan tràn khắp nơi qua nước uống đã bị ô nhiễm. Nhưng sau khi xét nghiệm máu, đa số các bệnh nhân này đều có kháng thể chống lại siêu vi viêm gan A. Và từ đó họ phát hiện ra một loại siêu vi gây bệnh viêm gan mới, tương tự như siêu vi viêm gan A với khả năng lây bệnh qua thức ăn, nước uống... Đó là siêu vi viêm gan E.
 
Viem gan sieu vi E được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, nhưng nhiều nhất vẫn là các nước ở vùng nhiệt đới gần đường xích đạo. Có tên trong danh sách này bao gồm châu Mỹ Latin, châu Phi, Ấn Độ, Trung Đông, châu Á... , nhất là những nước trong vùng Đông Nam Á. 
 
Bệnh thường bộc phát theo từng chu kỳ, khoảng 5 đến 10 năm, theo những mùa mưa lớn gây ra lũ lụt. Trong những năm 1986 đến 1988, hơn 120 ngàn dân chúng sống trong vùng Trinh Giang (Xinjiang) ở Trung quốc đã bị “trúng độc” vì siêu vi viêm gan E. Riêng tại Hoa Kỳ, siêu vi viêm gan E là nguyên nhân của hơn 50% bệnh viêm gan cấp tính thuộc loại “không A, không B” (non-A, non-B).
 
Tuy nhiên, nếu như đa số những người đã tiếp xúc với benh viem gan A, nhất là trẻ em, đều bị lây bệnh, thì siêu vi viêm gan E chỉ gây bệnh cho một thiểu số rất ít, từ 1 đến 10%. Nhưng bệnh lại có thể dễ dàng trở nên ác tính, với khoảng 0,5% đến 4% có nguy cơ tử vong. Độ tuổi dễ mắc bệnh nhất là từ 15 đến 40 tuổi.
 
Bệnh trở nên rất nguy hiểm khi người bệnh là phụ nữ đang mang thai, nhất là vào 3 tháng cuối cùng. Trong những trường hợp này, hơn 20% các bào thai có thể sẽ chết trong bụng mẹ hoặc ngay sau khi ra đời. 
 
Ngày nay, siêu vi viêm gan E đã được xem là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra dịch viêm gan lây lan qua đường tiêu hóa.
 
Giống như các bệnh truyền nhiễm khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể bị nhiễm siêu vi viêm gan E. Và tương tự như bệnh viêm gan A, bệnh lây lan ra khắp nơi qua thức ăn, nước uống và các điều kiện ô nhiễm của môi trường.
 
Bệnh dễ lây lan nhất qua số lượng siêu vi trong phân của bệnh nhân thải vào môi trường. Vì thế, tại các nước chậm tiến, khi phân người vẫn được dùng trong việc canh nông, bệnh có điều kiện để lan tràn một cách dễ dàng và nhanh chóng.
 
Hệ thống cống rãnh thoát nước không hoàn thiện cũng là một trong những nguyên nhân thuận lợi cho sự lây nhiễm siêu vi E, thông qua việc ô nhiễm nguồn nước. Chính vì thế, dịch bệnh viêm gan E trong đa số trường hợp thường bộc phát sau các trận lũ lụt.
 
Tuy nhiên, nếu so sánh với bệnh viêm gan siêu vi A thì bệnh viêm gan siêu vi E có tỷ lệ lây lan thấp hơn rất nhiều. Thông thường, từ 50% đến 75% số người sống chung với bệnh nhân viêm gan A cấp tính sẽ bị lây bệnh trong một thời gian ngắn. Nhưng đối với bệnh viêm gan siêu vi E, tỷ lệ này chỉ vào khoảng 0,7% đến 2,2% mà thôi. Người ta cho rằng siêu vi viêm gan E có phần “yếu ớt” hơn nên dễ bị tiêu diệt trong môi trường tự nhiên. Chỉ cần bị đun sôi trong vòng một phút, siêu vi viêm gan E sẽ hoàn toàn bị hủy diệt. Hơn nữa, số lượng siêu vi E xâm nhập vào cơ thể cần thiết đủ để gây bệnh viêm gan phải là nhiều hơn so với trường hợp của bệnh viêm gan siêu vi A.
 
Bệnh đôi khi cũng lây lan qua đường máu, nhưng rất hiếm khi lây lan qua các hoạt động tình dục.